Các quần xã thực vật trên thế giớI
1. Tổng quan

Nếu có ai hỏi hãy tìm chỉ một cá thể duy nhất vừa bảo đảm đất giàu, vừa điều hòa được nước và lụt, vừa phát sinh hơi nước, vừa tồn trữ cacbon, vùa thanh lọc không khí, vừa điều hòa nhiệt độ, vừa chứa động vật và thực vật, vừa làm đẹp cảnh quan thì chắc hẳn câu trả lời đó là một cây và cây lại là một phần của rừng. Trái Đất xưa kia rất nhiều rừng; rừng che phủ mọi nơi; chính do sự mục rửa cây cối trong những điều kiện nhất định đã tạo nên dầu hoả, mỏ than. Con người từ thời mới phát sinh ra cách đây mấy trăm ngàn năm cũng phải dựa vào rừng mà sống: văn minh du mục, sự săn bắn, củi đốt trong hang đá, làm nhà, đau ốm đều nương vào rừng. Không rừng, con người không có nguyên liệu, không muông thú để săn bắn.. Trong bài quốc ca của Việt Nam thời trước 1945, còn gọi là Đăng Đàn Cung, có câu hát:

Kìa núi vàng bể bạc, có sách trời, sách trời định phần...

Núi vàng không phải là núi có vàng mà ý nói là núi chứa đựng nhiều tài nguyên trong đó rừng là một. Rừng chính là vàng xanh; rừng còn qúy hơn vàng vì rừng ảnh hưởng đến khí hậu, đến thủy văn, đến sức khoẻ con người . Qủa vậy, rừng có nhiều chức năng: che chở, cung cấp, bảo vệ ..Vậy mục đích bài này là trình bày các chức năng ấy cũng như tương quan hữu cơ nhiều chiều giữa người và rừng, giữa rừng và nước, giữa nước và khí hậu v.v..

2. Các loại rừng trên thế giới

Đi từ miền xích đạo lên bắc cực, có nhiều loại rừng như sau:

2.1 Rừng mưa nhiệt đới (wet evergreen forest, còn có tên là tropical rainforest). Gặp ở vùng Amazonie của Bresil, Congo bên Phi Châu, Đông Nam Á, Indonesia . Mưa suốt bốn mùa, nhiệt độ nóng đều (tư` 24 0 đến 300 ) nên cây cối rậm rạp, giây leo chằng chịt, nhiều loài phụ sinh trên thân cây, lá xanh quanh năm; có trên 100 loài thực vật trong mỗi hecta. Lượng mưa lớn do đó rừng có nhiều tầng, cao, rậm rạp. Mặt trời ít khi xuống tận mặt đất. Cây to, dưới gốc có "bạnh" như cây bằng lăng, trên thân có phong lan, tầm gửi, mây chằng chịt. Động vật phong phú với vượn, khỉ, sóc, chim, voi, trâu rừng, thỏ.. Tuy chỉ chiếm 7 % diện tích đất nhưng trên 50% chủng loại động vật và thực vật là nằm trong loại rừng này . Do đó, đây là hòn ngọc, là hột xoàn về đa dạng sinh học của hành tinh chúng ta

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những tre cùng nứa lấy ai bạn cùng

Cây mai trong ca dao là một loài tre nứa to (Sinocalamus giganteus), cao 15-20m, thường dùng trong xây dựng, làm bè mảng, ống máng dẫn nước.

Cây trúc cũng loài tre, tên khoa học là Phyllostachys, mọc nhiều vùng Thượng du và Trung Du miền Bắc. Cây trúc cũng được nhắc nhở trong ca dao:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng thế nào cũng xinh

Vì Việt Nam trải dài qua nhiều vĩ tuyến và có nhiều cao độ khác nhau nên có nhiều loại rừng. Trên Dalat có nhiều rừng thông 2 lá (Pinus merkusì), thông 3 lá (Pinus Khasya), tùng (Juniperus), bách tán (Araucaria excelsa).

Vùng Đông Bắc như Sơn La, Lai Châu, Fan Si Pan, có các cây pơmu (Fokiena hodginsì), samu (Cunninghamia lanceolata), du sam (Keteleeria davidiana) là các cây gỗ qúy.

Vùng cao độ thấp có mùa khô rõ rệt, ta gặp rừng dầu (Cheo Reo, Ban Don) gồm các cây họ Dipterocarpaceae.

Vùng mưa đều và mùa khô ít rõ rệt, có rừng dày luôn luôn xanh (Kontum, thượng nguồn Trị, Thiên, Nam, Ngãi ) Có cây trắc (Dalbergia cochinchinensis), giáng hương (Pterocarpus pedatus), cẩm lai (Dalbergia oliverrì), gụ (Sindora cochinchinensis)..

Ven biển như Ca Mau, Cần Giờ có rừng ngập mặn với cây mắm, đước, sú, vẹt
Trung Du miền bắc cũng như tại nhiều nơi khác, do đốt nương rẫy ta gặp rừng thứ sinh với tre nứa , gồm rừng tre lồ ô miền Nam, trúc ở Bắc Cạn, Thái Nguyên, nứa ở Việt Bắc. Tre nứa là loài cây ưa ẩm, ưa sáng, mọc nhanh, dùng xây nhà, làm giấy, hàng thủ công..

2.2 Rừng khô rụng lá nhiệt đới (tropical seasonal forest; forêt sèche tropicale) .Hiện diện ỏ Thái Lan, Ai Lao, Bắc Australia, miền Caraibes. Khi rời vùng xích đới đến vùng nhiệt đới thì lượng mưa hàng năm nhỏ đi và trong năm có mùa khô hạn. Thảo mộc thích nghi với mùa khô bằng cách rụng lá để tránh mất nhiều nước. Mùa thu, lá cây phong nửa vàng nửa đỏ:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du cùng con ngườI gắn bó quyện vào nhau đến nỗi ‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ‘. Thiên nhiên thông cảm với tình người vì khi hai người yêu phải xa nhau thì vầng trăng kia cũng vì hai người mà ‘ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường’.

2.3 Savan hoặc thảo nguyên.
Khi mùa khô kéo dài quá 3 tháng và lượng mưa ít dần thì rừng nhiệt đới thưa dần và nhường chỗ cho thảo nguyên. Thảo nguyên có nhiều dạng, từ thảo nguyên có cây thưa thớt rải rác trên cánh đồng cỏ mà mùa xuân ‘cỏ non xanh tận chân trời ‘ đến thảo nguyên chỉ có thỉnh thoảng vài lùm bụi.

Sự đốt rừng nguyên thủy ở Phi Châu và châu Mỹ nhiệt đới đã tạo những thảo nguyên rộng lớn với nhiều động vật móng guốc tăng lên .Động vật có ngựa vằn, hươu cao cổ, tê giác. Chúng thích nghi với sự vận chuyển trên đồng cỏ hoang vu (thân thon, chân co dà khỏe, có guốc). Có những loài thú ăn thịt thích nghi vớI sự chạy nhanh, chúng săn bắt thú ăn cỏ (sư tử, báo ..), có những loại chim như đà điểu . Sâu bọ có cào cào, châu chấu (criquet pelerin). Vietnam có nhiều savan cỏ tranh (Imperata cylindrica).

Views: 6598

fb tw in fb