NHỮNG CON ĐẬP LAN THƯƠNG* TRÊN VÙNG ĐỘNG ĐẤT VÂN NAM
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

Hội Sinh Thái Việt giới thiệu bài khảo luận này của BS Ngô Thế Vinh đã đăng trên mạng Bauxite Vietnam tháng 10, 2009. http://bauxitevietnam.info/c/11693.html

LỜI DẪN NHẬP

“Thượng lưu sông Mekong (Upper Mekong Basin) là vùng động đất, với những chuyển động địa chấn đáng kể nên người ta có lý do để sợ rằng động đất sẽ xảy ra khi xây những con đập ở thượng nguồn”. [1]
Đó cũng là chủ điểm một bài viết của Bác sĩ Ngô Thế Vinh cách đây 7 năm đã đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 158, tháng 06/2002, đề cập tới mối nguy cơ động đất từ những con đập thủy điện Vân Nam; ở thời điểm đó lời báo động ấy được xem như quá xa vời. Rồi những trận động đất lớn liên tiếp xảy ra trong những năm sau này, nơi vùng Tây Nam Trung Quốc với những tàn phá rộng lớn với nhiều con đập thủy điện trong vùng bị hư hại; sự kiện này đã khiến chính những học giả và các nhà hoạt động môi sinh ngay tại Trung Quốc đã phải gửi một kiến nghị 12/06/2008 kêu gọi chính quyền Bắc Kinh phải duyệt xét lại sự an toàn của những con đập thủy điện trên khu vực địa chấn không ổn định là vùng Tây Nam Trung Quốc; trong đó có đề nghị cụ thể là nhà nước Trung Quốc phải ngưng ngay việc chuẩn thuận những dự án đập thủy điện lớn trong vùng, cho đến khi nào hoàn tất những bước nghiên cứu về tính khả thi và an toàn của những dự án đập, và đáng chú ý nhất là yêu cầu “công khai hóa (make public)” những thông tin có được từ các công trình “tái khảo sát” ấy [6] – điều mà bấy lâu nay Trung Quốc luôn luôn giữ kín và che đậy. Bauxite Việt Nam gửi tới bạn đọc bài viết mới nhất của Bác sĩ Ngô Thế Vinh về vấn đề rất thời sự và đang gây nhiều mối quan tâm này.

*

NHỮNG TRẬN ĐỘNG ĐẤT VÂN NAM

Theo USGS (Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ), vùng Tây-Nam Trung Quốc bao gồm tỉnh Vân Nam, có nhiều “hoạt động địa chấn (seismically active)”. Các trận động đất liên tiếp tàn phá Trung Quốc trong thế kỷ trước và đầu thế kỷ 21 thường có “tâm địa chấn (epicenter)” nằm trong khu vực này.
Cũng theo Tân Hoa Xã (Xinhua), do Vân Nam là vùng động đất nên chỉ trong vòng 50 năm qua đã có tới 11 trận động đất lớn hơn 6 độ Ritchter. Có thể điểm qua các trận động đất ở Vân Nam trong thập niên đầu của thế kỷ 21 này:

– Năm 2000: ngày 15/01, hai trận động đất 5.9 và 6.5 ở Vân Nam, đã phá hủy 10.000 căn nhà gạch và gỗ, 371 người bị thương và 4 tử vong – theo CSB (China Seismological Bureau).

– Năm 2003: ngày 21/07, động đất 6.0 ở Vân Nam, đã phá hủy 24.000 căn nhà, gây hư hại 1.186.000 căn nhà khác, 584 người bị thương với 16 tử vong – theo USGS (US Geological Survey).

– Năm 2008: ngày 31/08, động đất 6.1, ở hai tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên với hậu chấn, đã phá hủy 250.000 căn nhà, với 467 người bị thương và 38 tử vong; tâm địa chấn rất gần với vùng động đất 7.9 xảy ra trước đó 3 tháng (12/05/2008) giết hại hơn 70.000 người và 10 triệu người không nhà – theo Reuters & AP.

– Năm 2009: ngày 09/07, động đất 5.7 ở Vân Nam với 8 hậu chấn: phá hủy 10.000 căn nhà, thêm 30.000 căn nhà khác bị hư hại, 300 người bị thương và 50 thương tích trầm trọng – theoWikipedia.

Việc xây những con đập thủy điện khổng lồ trên một vùng thường xuyên xảy ra những trận động đất như vậy, khiến người ta không thể không tự hỏi về sự an toàn cấu trúc của chuỗi những con đập bậc thềm trên sông Lan Thương (tên Trung Quốc của con sông Mekong) và cả mối lo ngại về nguy cơ vỡ đập kèm theo những trận hồng thủy có sức tàn phá khủng khiếp giáng xuống đầu các quốc gia hạ nguồn. Nội dung bài viết sau đây của tác giả Ngô Thế Vinh là một nỗ lực đi tìm câu trả lời cho vấn nạn ấy.

AN TOÀN CỦA CÁC CON ĐẬP THỦY ĐIỆN

Đó phải là mối quan tâm hàng đầu, không phải chỉ của các chuyên gia xây đập mà còn là mối ưu tư của cư dân sống ven sông và của các quốc gia hạ nguồn, nhất là đối với những con đập rất cao và hồ chứa nước cực lớn như chuỗi những con đập bậc thềm Vân Nam. Mối e ngại lại càng gia tăng khi được biết các con đập ấy được xây trên một vùng rất thường xảy ra những trận động đất với mức độ tàn phá rộng lớn.

Theo giáo sư Shunzo Okamoto thuộc đại học Tokyo thì sức nước hãm ép của hồ chứa có thể gây động đất, nhất là nơi mà “thế năng động đất” (potential earthquake energy) đã tích lũy ở mức cao. [1]

Điển hình là Nhật Bản vốn nằm trên vùng địa chất không ổn định, thường xảy ra các trận động đất, nên mỗi dự án xây đập đều được khảo sát thật chu đáo trên mọi khía cạnh, nhất là địa chất, với những hồ sơ theo dõi các trận động đất lớn nhỏ và hoạt động của từng núi lửa, cả việc xác định xem có rãnh nứt dưới lớp địa tầng hay không. Do đó đã có một số công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh ở Nhật liên quan tới đề tài “xây đập gây hậu quả động đất”.
Giáo sư Seiji Otake, nguyên Giám đốc nghiên cứu về động đất của Trung Tâm Quốc Gia Phòng Tránh Thiên Tai Nhật Bản đã đưa ra nhận định: “có tới 90 phần trăm xác suất là các hoạt động địa chấn gia tăng ở vùng có những con đập cao hơn 100 mét.” [1]

Đã có rất nhiều tường trình về các trận động đất do xây đập gây ra: cả ở vùng ôn đới với các quốc gia phát triển và ở vùng nhiệt đới với các nước đang phát triển.
Các nhà khoa học địa chất khảo sát những con đập lớn nhận thấy: sức nặng thường trực của khối nước khổng lồ trong hồ chứa đã gây ra tình trạng mất cân bằng địa chấn, gây đứt đoạn lớp địa tầng dưới đáy và làm vỡ cấu trúc toàn con đập – người ta gọi đó là các trận “ĐỘNG ĐẤT DO HỒ CHỨA (reservoir triggerred seismicity)”.

Đã có những trận động đất gây ra do hồ chứa làm chấn động dư luận thế giới. Như khi hồ chứa Đập Aswan High (Ai Cập) lấy đầy nước, thì sau đó các trận động đất M4.7 (3/1982), M4.3 (2/1983) đã xảy ra trên vùng đất mà trước năm 1980 chưa hề có ghi nhận một cơn địa chấn nào. Tại Trung Quốc, gần tỉnh Quảng Đông, có con đập Tân Phong Giang (Xinfengjian) cấu trúc giống đập Aswan đã bị một cơn địa chấn M6.1 vào năm 1961. Các trận động đất khác do hồ chứa cũng đã xảy ra với con đập Koina (Ấn Độ): M5.5 (9/1967), M6.3 (12/1967) làm nứt thành đập và khiến hơn 180 người chết.

HẠ LƯU SÔNG MEKONG YÊN TĨNH

Con đập lớn Pa Mong ở hạ lưu sông Mekong (Lower Mekong Basin) tuy chỉ mới hình thành trên dự án, nhưng các chuyên gia Ủy Ban Sông Mekong (Mekong River Committee, 1957), tiền thân của Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission, 1995) hiện nay, đã hết sức thận trọng nghiên cứu về hậu quả có thể gây động đất do dung lượng lớn của hồ chứa. Các cuộc khảo sát địa chất cũng đã phát hiện ra các “đứt gãy (faults)”, trong số đó có đứt gãy Ban Ang (Ban Ang fault) chạy ngang dưới vùng xây đập Pa Mong, nhưng đó chỉ là những đứt gãy cũ và không còn hoạt động (inactive). Cho tới nay, chưa có một cơn địa chấn nào được ghi nhận nơi dự trù xây con đập Pa Mong.

[Tưởng cũng nên nói qua về Dự án Đập Pa Mong, đó là con đập lớn giữa biên giới Thái – Lào, trên dòng chính sông Mekong trong hệ thống đập ở hạ lưu sông Mekong, với hồ chứa dài hơn 300 km, sẽ dìm sâu trong đáy nước đất đai nhà cửa của khoảng 60 ngàn cư dân, nhưng sẽ cung cấp nguồn điện trên 2.000 MW, cải thiện thủy lộ giao thông, tạo sức bật phát triển kinh tế cho toàn vùng đông bắc Thái Lan và Lào].

Cho dù có một số suối nước nóng ở hạ lưu Mekong nhưng hầu như đã không có hoạt động địa chấn nào trên vùng đất này. [1]

THƯỢNG LƯU SÔNG MEKONG DAO ĐỘNG

Thượng lưu sông Mekong là vùng nhiều núi lửa và rất thường xảy ra những cơn động đất, như gần rặng Arakan Bắc Miến Điện – nơi có các ngọn núi lửa Pu Fai Yai và Pu Fai Noi cao hơn cao nguyên Muang Hongsawadi từ 60 tới 90 mét. Vào năm 1990, một trận động đất M6 đã xảy ra gần nơi xây đập Tiểu Loan (Xiaowan) trên dòng chính sông Lan Thương.

[Con đập Mẹ Tiểu Loan vĩ đại được khởi công tháng 04/2001 và mới hoàn tất tháng 08/2009, chỉ đứng thứ hai sau con đập Tam Hợp (Three Gorges Dam) lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử. Đập Tiểu Loan với công suất 4,200 MW là con đập cao nhất thế giới – 292 mét, tương đương với tòa nhà chọc trời cao 100 tầng – với dung lượng hồ chứa lên tới 15 tỉ mét khối nước lấy từ con sông Mekong, dự trù bắt đầu hoạt động từ năm 2010 và đạt toàn công suất năm 2013, sẽ cung cấp điện cho tỉnh Quảng Đông và các tỉnh cận duyên Trung Quốc].

Hiroshi Hori là một chuyên gia uy tín về sông Mekong, từng làm việc cho Liên Hiệp Quốc trong Ủy Ban Sông Mekong có trụ sở ở Bangkok trong những năm 60 của thế kỷ trước (1964-1969), đặc trách Kế Hoạch Lưu Vực Sông Mekong (Indicative Mekong River Basin Plan). Sau đó ông giữ chức vụ tham vấn cho Ngân hàng Phát Triển Á Châu (ADB – Asian Development Bank), đại diện cho Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP – United ations Development Plan) ở New York. Đồng thời ông cũng là Chủ tịch Ủy Ban Nghiên Cứu Sông Mekong của Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật bản (JICA – Japan International Cooperation Agency). Ông cũng là tác giả của nhiều bài nghiên cứu kinh điển và các cuốn sách như “Technology Society, Pergamon Press 1990”, “Conflicts and Opportunities Concerning Development and the Environment in the Mekong Basin, IWRA 1998”.
Riêng trong cuốn sách “The Mekong: Environment and Development” [United Nations University Press, Tokyo 2000]. Hiroshi Hiro đã đưa ra nhận xét:
Thượng lưu sông Mekong là vùng động đất, với những chuyển động địa chấn đáng kể nên người ta có lý do để sợ rằng động đất sẽ xảy ra khi xây những con đập ở thượng nguồn sông Mekong. [1]

Views: 19605

fb tw in fb