Có nên hạ chuẩn môi trường?

(TBKTSG Online) - Có một câu mà tôi hay nghe các chủ đầu tư phát biểu về các dự án công nghiệp của họ: “Nhà máy được áp dụng công nghệ hiện đại và đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo các tiêu chuẩn của Việt Nam”.

Vậy nhưng, trên bình diện quốc gia, chất lượng môi trường vẫn đang ngày càng suy thoái, nhất là môi trường không khí và môi trường nước tại các khu vực công nghiệp. Câu hỏi của tôi là: Thế thì các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam đã thực sự nghiêm ngặt và có hiệu quả trong việc kiểm soát ô nhiễm công nghiệp hay chưa?


Một nhà máy thuộc cụm nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Ảnh: Lê Anh Tuấn.

Qua nhiều năm làm tư vấn môi trường và nghiên cứu chính sách, tôi phát hiện thấy cách tiếp cận xây dựng các chính sách môi trường của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều vấn đề. Theo tôi, nhiều khi có cả sự chấp nhận đánh đổi giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường và như ai đó từng nói đôi khi không tránh khỏi sự thỏa hiệp giữa các nhóm lợi ích?

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã từng phát biểu: “Không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế”. Tuy nhiên trên thực tế không thiếu những ví dụ về việc "hạ chuẩn môi trường" vẫn đang tiếp tục diễn ra.

Gần đây, nhiều ý kiến ủng hộ nhiệt điện than cho rằng nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ… vẫn đang phát triển nhiệt điện than, do vậy Việt Nam không nên ngoại lệ.

Tính đến cuối năm 2018, Việt Nam đã có 28 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng công suất khoảng 18.000 MW cùng với 7 nhà máy đang xây dựng với tổng công suất 7.860 MW. Dự kiến đến năm 2030, Việt Nam sẽ có hơn 70 nhà máy nhiệt điện than với tổng công suất 55.300 MW. Nghĩa là chỉ trong vòng hơn 10 năm tới, Việt Nam sẽ tăng hơn gấp đôi về số lượng nhà máy và tổng công suất nhiệt điện than.

Vậy quy chuẩn đang áp dụng cho khí thải của các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam như thế nào? Suốt 10 năm qua, Việt Nam vẫn "kiên trì" với quy chuẩn QCVN 22: 2009/BTNMT, trong đó quy định nồng độ các chất ô nhiễm điển hình trong khí thải các nhà máy nhiệt điện than xây dựng mới như sau: SO2 là 500 mg/m3, NOx là 1.000 mg/m3 và bụi tổng là 200 mg/m3.

Trong cùng thời gian đó, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng siết chặt các quy định này. Cụ thể, các nhà máy nhiệt điện than xây dựng mới tại Trung Quốc chỉ được phát thải SO2 là 35 mg/m3, NOx là 50 mg/m3 và bụi tổng là 10 mg/m3. Tại Ấn Độ, các nhà máy nhiệt điện than xây dựng mới chỉ được phát thải SO2 là 100 mg/m3, NOx là 100 mg/m3 và bụi tổng là 30 mg/m3.

Như vậy quy định về khí thải SO2 của các nhà máy nhiệt điện than Việt Nam đang cao gấp 14 lần Trung Quốc, gấp 5 lần Ấn Độ; NOx cao gấp 20 lần Trung Quốc, gấp 10 lần Ấn Độ; và bụi tổng cao gấp 20 lần Trung Quốc, gấp 7 lần Ấn Độ

Trên thực tế, chỉ trong vòng 10 năm qua, Trung Quốc đã loại bỏ khoảng 110.000 MW công suất các nhà máy nhiệt điện than có công nghệ lạc hậu, hiệu suất thấp và đặt mục tiêu hết năm 2020 loại bỏ thêm 20.000 MW. Hơn thế nữa, trong năm 2017, Trung Quốc cũng đã đình chỉ xây dựng 300.000 MW công suất nhiệt điện than.

Con số 50% nguồn tài chính đầu tư cho nhiệt điện than tại Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc cùng với hàng loạt các dự án nhiệt điện sử dụng thiết bị Trung Quốc mà GreenID đưa ra năm 2017 là điều dễ hiểu.

Cũng là nhiệt điện than, từ năm 2015, Trung Quốc đã cấm đốt than có hàm lượng tro cao hơn 16% để giảm phát thải tro xỉ. Trong khi đó, Việt Nam ưu tiên xuất khẩu than chất lượng cao và tuyệt đại đa số các nhà máy đang đốt các loại than chất lượng kém còn lại để phát điện.

Ví dụ, nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 vừa khánh thành đốt than cám 5 có hàm lượng tro từ 29-33%, hay nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đốt than cám 6A có hàm lượng tro 37,5%. Bên cạnh việc phát sinh ô nhiễm khí thải khó kiểm soát, đốt than chất lượng kém còn phát sinh lượng lớn tro xỉ phải xử lý, như hai ví dụ trên cho thấy trung bình đốt 100 tấn than đã tạo ra khoảng 35 tấn tro xỉ . Dự kiến đến cuối năm 2020, cả nước sẽ tồn đọng khoảng 109 triệu tấn tro xỉ với mối đe dọa không còn đủ đất để chôn lấp hay tồn chứa trong vòng 2 năm nữa.

Quy định của các nước về ngưỡng than dư tối đa để tro xỉ có thể sử dụng làm vật liệu xây dựng là 12%, cao hơn ngưỡng này thì phải chôn lấp. Trong khi đó, tỉ lệ than dư trong tro xỉ nhiệt điện than Việt Nam dao động từ 15-45%. Trong khi đó, tiêu chuẩn quốc gia về tro xỉ nhiệt điện đốt than làm vật liệu san lấp (TCVN 12249:2018) đã bỏ qua chỉ tiêu về tỷ lệ than dư, một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng để đánh giá khả năng sử dụng tro xỉ làm vật liệu xây dựng.

Vậy, phải chăng việc ban hành TCVN 12249:2018 cho phép dùng tro xỉ nhiệt điện than để san lấp mặt bằng mà không quy định ngưỡng than dư là nhằm… đưa tro xỉ ra môi trường một cách hợp pháp?

Năm 2017, Bộ Tài nguyên Môi trường cấp phép cho Điện lực Vĩnh Tân 1 (do Trung Quốc đầu tư) "nhận chìm" chất nạo vét ở cảng biển Vĩnh Tân, sau đó một loạt các nhà máy nhiệt điện khác cũng vào cuộc xin "nhận chìm".

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 “nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 2005), có hiệu lực từ ngày 1-1-2015, ‘bỗng dưng’ xuất hiện điều khoản về "nhận chìm, đổ thải ở biển và hải đảo". Tiếp đó, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 1-7-2016 cụ thể hóa quy định về "nhận chìm ở biển".

Theo luật pháp quốc tế, cụ thể là Công ước London 1972 và Nghị định thư London 1996, hoàn toàn không có khái niệm gọi là "nhận chìm ở biển", họ gọi đúng bản chất là "xả thải xuống biển" (sea dumping).

Để ngăn ngừa đà suy thoái môi trường, có lẽ đã đến lúc cơ quan chức năng cần rà soát và chấn chỉnh lại tất cả những chính sách về kiểm soát ô nhiễm của tất cả các ngành công nghiệp tại Việt Nam. Đó phải là những ‘hàng rào kỹ thuật’ đóng vai trò ngăn ngừa ô nhiễm ngay từ khâu thẩm định, cấp phép đầu tư và phải được xây dựng dựa trên sự minh bạch thông qua quá trình tham vấn cộng đồng một cách cầu thị và có thực chất. Mục đích cuối cùng là môi trường sống, sức khỏe và sinh kế của người dân.

Views: 502

fb tw in fb