NƯỚC SẠCH XÃ ĐỒNG PHÚ

Mở đầu

Đồng Phú là một xã nông nghiệp thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây – nằm giáp
ranh với Hà Nội. Xã Đồng Phú bao gồm khoảng 5600 cư dân với khoảng 1100 hộ
gia đình. Nguồn lợi chính của người dân nơi đây là nông nghiệp, tiểu thủ công (mây
tre đan) và chăn nuôi nhỏ theo hộ gia đình. Trong xã, có 22% dân số trong diện
nghèo với thu nhập chưa tới 200.000 đồng/người/tháng (khoảng 12 USD).

Cũng như nhiều vùng nông thôn nghèo ở Việt Nam, chất lượng cuộc sống và sức
khỏe cộng đồng còn chưa được chú ý, trong đó đặc biệt là vấn đề sử dụng nguồn
nước đảm bảo chất lượng và vệ sinh. Vì vậy, việc phổ biến tầm quan trọng và ý
nghĩa của việc sử dụng nước sạch tới nhân nhân xã Đồng Phú là một việc làm tuy
nhỏ nhưng có ý nghĩa rất thiết thực. Cùng với sự tài trợ của công ty FPT, VEF (Viet
Ecology Foundation), nhóm dự án trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học
Quốc gia Hà Nội) đã thực hiện thành công dự án “Nước sạch xã Đồng Phú”.

1. Thông tin về dự án “Nước sạch xã Đồng Phú”

  1. Địa điểm triển khai dự án: xã Đồng Phú, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
  2. Thời gian thực hiện dự án: từ 01.12.2007 đến 31.05.2008
  3. Nhân sự thực hiện dự án:
    1. TS. Hoàng Thị Minh Thảo (HUS-VNU)
    2. ThS. Nguyễn Thị Minh Thuyết (HUS-VNU)
    3. KS. Nguyễn Duy Hùng (INEST-HUT)
    4. KS. Đỗ Cao Cường (HUMG)
    5. CN. Hoàng Thúy Lan (HUMG)
    6. Mr. Nguyễn Thế Anh (xã Đồng Phú)
  4. Nhà tài trợ và cố vấn của dự án: Ông Nguyễn Minh Thông, Công ty FPT, Viet Ecology Foundation, Ông Đàm Quang Minh, Ông Nguyễn Văn Tâm.

2. Cơ sở thực hiện dự án

2.1 Biểu hiện ô nhiễm nguồn nước và thực trạng sử dụng nước xã Đồng Phú.

Do các hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh nhưng do không đảm bảo quy cách nên
nước mặt xã Đồng Phú bị nhiễm bẩn trầm trọng. Về cơ bản, nước ao hồ hiện tại
không sử dụng được do có mùi hôi thối. Do đó hầu hết các hộ gia đình sử dụng
nước dưới đất và nước mưa.

Tầng nước khai thác trong vùng ở độ sâu khoảng 20 - 40m tùy từng khu vực, nền cơ
bản là trầm tích bở rời, ở một số khu vực gặp nền cứng của vỏ phong hóa. Nước
khai thác nhiễm sắt có màu vàng nhạt, một số vùng trong xã nước ngầm bị nhiễm
thạch tín (arsenic). Tầng chứa nước trong vùng là tầng Pleistocene, đây là tầng nước
có quan hệ thủy lực với Sông Hồng và Sông Đáy nên trữ lượng nước được phục hồi
và bị ô nhiễm các chất độc hại từ bên ngoài.

Trong xã có khoảng 600 giếng khoan trên tổng số hơn 1100 hộ gia đình. Các hộ dân
còn lại hoặc sử dụng nước giếng, nước mưa hoặc phải đi xin các nhà lân cận. Các
giếng khoan nói chung còn sơ sài, chưa đảm bảo kỹ thuật cũng như vệ sinh. Một số
hộ gia đình khá giả có bể lọc xử lý nước đúng quy cách cho chất lượng khá tốt.
Về các bệnh liên quan tới vệ sinh nguồn nước như bệnh đau mắt, đường ruột là khá
phổ biến trong dân cư với khoảng 400 ca đau mắt đỏ/năm, 330 ca bệnh đường
ruột/năm.

2.2 Đánh giá chất lượng nước giếng khoan (nước ngầm) xã Đồng Phú

Nhóm dự án đã tiến hành khảo sát, lấy mẫu nước giếng khoan tại một số vị trí và
phân tích trong phòng thí nghiệm nhằm đánh giá chất lượng nguồn nước giếng
khoan (nước ngầm) tại địa phương, khu vực triển khai dự án.

Kết quả phân tích các mẫu nước giếng khoan được thể hiện ở bảng 1.

Các chỉ số phân tích được cho thấy các mẫu nước trước khi lọc đều bị nhiễm bẩn sắt
khá cao, có mẫu (thôn Hoàng Xá) cho chỉ số nhiễm sắt cao hơn 10 lần so với tiêu
chuẩn Việt Nam về chất lượng nước cấp sinh hoạt TCVN 5502:2003. Phân tích mẫu
nước lấy tại một số địa điểm như thôn Thượng Phúc, Hạ Dục, Hoàng Xá cho thấy
nước ngầm tại đây nhiễm arsen. Hầu hết các mẫu nước cũng cho chỉ số coliform cao
hơn so với tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502:2003. Kết quả này cũng phù hợp với
rất nhiều nghiên cứu trước đây tại địa phương. Ngoài ô nhiễm Fe, coliform, As phổ
biến, nước tại một số nơi còn chứa hàm lượng Mn, NH4+ và độ cứng cao. Bảng 1
còn cho thấy mẫu nước sau khi lọc tại một số hộ dân xã Đồng Phú đã giảm đáng kể
hàm lượng Fe, tuy nhiên còn có bể lọc chưa xử l ý được As và coliform.

Views: 3823

fb tw in fb