Mekong Dòng Sông Tranh Chấp
Hiện tình tranh chấp và viễn ảnh hạ nguồn

Sông Mekong mang nguồn sống cho 60 chục triệu dân nghèo nay đang biến thành nguồn tai họa giáng xuống họ, mực nước Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) bỗng rút thấp hơn vào cuối mùa khô rồi lại dâng cao hơn vào đỉnh mùa lũ, bất thường và liên tục suốt trong thập niên 90 đến nay. Hàng năm, Mekong gây thiệt mạng hàng trăm người Việt và Cam Bốt phần lớn là trẻ em. Hiện tượng lũ lụt gia tăng này không hẳn do biến đổi khí hậu (gobal warming) hay dao động nhiệt độ El Nĩno (ENSO: El Nĩno Southern Oscillation). Nếu dựa vào dữ kiện thời tiết của Cơ Quan Khí Tượng Hoa Kỳ [NOAA] về vũ lượng trên vùng Đông Nam Á vào mùa mưa năm 2000 ta sẽ không thể kết luận hiện tượng lũ lụt nặng nề xuống Mekong năm ấy là do El Nino gây ra: Tuy có nhiều nơi mưa bất thường thật nhưng mưa không nằm trên lưu vực sông Mekong. Lụt năm 2000 có lẽ là hậu quả của nhiều nguyên nhân, mà có lẽ nguyên nhân chính là do con người: Từ việc phá rừng lấy gỗ bất hợp pháp ở thượng nguồn, việc chận ngang sông xây đập giữ nước rồi lại xả nước từ các hồ chứa. Theo KS Nguyễn Minh Quang thì chính các công trình thủy nông, việc nâng cao kênh đào, các đê ngăn mặn và các tuyến đường trong ĐBSCL do con người làm ra đã khiến lũ dâng cao hơn, nhanh hơn vì không thể tự nhiên chảy thoát ra biển [1]. [Hình 1]

Ông Quang viết: “Từ sau năm 1975, nhất là từ giữa thập niên 1980, ngoài việc nạo vét và nới rộng các kinh hiện có, một số lớn kinh chính và một mạng lưới kinh cấp II dày đặc đã được đào xuyên qua vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên và các vùng khác trên khắp ĐBSCL với mục đích chính là thủy nông. Hệ thống kinh nầy đã trở thành những lòng lạch thuận lợi cho nước lũ từ Kampuchea chảy vào Việt Nam sớm hơn, nhiều hơn, và nhanh hơn. Nó đã thay đổi đường thoát lũ thiên nhiên của ĐBSCL, nhất là ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Đồng thời, một hệ thống đê đập ngăn mặn đã được xây dựng ở cuối đường thoát lũ ở hạ lưu cùng với một hệ thống đường giao thông được nâng cao. Vì không đủ khả năng thoát lũ, hệ thống đê đập ngăn mặn và đường giao thông nầy biến thành một hệ thống “đê đập ngăn lũ” làm cản trở nước lũ trong vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên thoát ra biển Đông và vịnh Thái Lan. Hậu quả là mực nước ngập trong hai vùng nầy ngày càng sâu hơn và thời gian ngập ngày càng dài hơn.”

Mặt khác, những năm mưa nhiều nối tiếp sau một năm mưa hiếm rất đáng lo ngại, người ta có thể để hồ chứa đầy lên quá sớm [vì sợ thiếu mưa như năm trước] rồi khi mưa vẫn tiếp tục đổ xuống hồ sẽ không còn chỗ chứa, các hồ ấy buộc phải tự cứu xả nước xuống hạ nguồn dù hạ nguồn đã chìm trong màn nước. Nếu để cho đập tràn vỡ thì còn nguy hơn, vì sóng thần sẽ đổ xuống tàn phá hạ nguồn, nên mở đập lúc đó là việc bất khả kháng. Sự việc này người viết đã trình bày trên diễn đàn Enviro-VLC của UNDP vào đầu tháng 10 năm 2000 và chỉ hai tuần sau đó, chính việc xả nước đáng tiếc này đã xảy ra cùng lúc tại các đập Đa Nhim, Trị An, Thác Mơ và Dầu Tiếng tại Việt Nam cũng sau đỉnh mùa lũ. Muốn tránh tai họa này, ngoài việc tiên đoán khí tượng chính xác để đối phó sớm, mà thể tích các hồ thủy điện cần phải tính trước đủ lớn để chứa nổi mưa kỷ lục 1000 năm hay hơn. Cả hai điều này đều đã không có và không dễ có được đối với các nước Mekong phương tiện vốn eo hẹp và chuyên viên vốn hiếm hoi.

Không phải chỉ ở Việt Nam, Cam Bốt cũng đã hứng chịu những trận lũ lụt bất thình lình trong những năm 1996-2000. Dân Cam Bốt cáo buộc các trận lũ ấy là do đập Yali của Việt Nam gây ra. Trong tháng 9, 2002, một đoạn sông Mekong tại Chiang Sean, Thái Lan đã bị lở bờ và mất hẳn đi một vùng đang canh tác dài 20 km ven sông. Người Thái cho rằng đây là do đập Mãn Loan Trung Quốc đã xả nước xuống hạ nguồn để tránh lụt trên hồ chứa, và do Trung Quốc phá hủy các cù lao trên sông không còn gì cản dòng nước như trước nữa. Theo TS Sin Meng Srun tại buổi Hội Thảo Sông Mekong năm 2000, Santa Ana College, hiện thời ngư dân Cam Bốt đã phải gia tăng làm việc, sắm dụng cụ đánh cá để giữ mức lợi tức cũ và đối phó với tình trạng ngư sản trên sông tiếp tục giảm sút dần, cá bắt được nhỏ hơn và số giống loài mang về đang hiếm dần đi. [Hình 2]

Trước cảnh lũ lụt hàng năm, các cuộc vận động cứu giúp lũ lụt đã lan rộng từ Việt Nam ra khắp thế giới, trong và ngoài nước cùng nhau cứu lụt. Có những bà cụ tự mình làm bánh đem ra ngoài trời bán dưới gió lạnh và màn đêm gây quỹ tại các buổi trình diễn văn nghệ cứu trợ. Vận động cứu trợ cứ thế tiếp diễn sau những trận lụt hàng năm như đành chấp nhận định mạng an bài, tưởng như tai họa này chỉ có màu nhiệm thần linh mới giải quyết nổi! Thực tế không phải như vậy và đúng ra không cần phải chịu như vậỵ Việc nghiên cứu nguyên nhân của lũ lụt, việc thực hiện các biện pháp tránh né và giảm thiểu các tai họa, hay ít nhất là theo dõi dự báo và phòng trước tai họa cho Mekong đã không được một nỗ lực lớn nào chú tâm đúng mức với khả năng và kiến thức hiện có của nhân loại.

Những tai họa và hiện trạng này mới chỉ là những tiếng chuông báo động cho chuỗi tai họa lớn hơn và không thể cứu vãn lại từ Vân Nam sẽ dồn đổ xuống các nước hạ nguồn. Viễn ảnh lũ lụt lẫn hạn hán xảy ra liên lục và khắc nghiệt hơn xưa. Biển Hồ Ton Le Sap, một kho sinh quyển quan trọng của địa cầu [biosphere reserve] rồi sẽ bị cạn xuống, thu nhỏ lại và thêm ô nhiễm. Nước mặn sẽ xâm lấn sâu hơn nữa vào đồng bằng Việt Nam, trọng tải phù sa giảm, môi sinh duyên hải sẽ suy thoái và hủy hoại là những điều không phải nghi ngờ. Trước câu hỏi liệu có thể tránh được viễn ảnh này không, thì không một chính phủ trong số các quốc gia hạ nguồn hiện có một biện pháp gì để đối phó. Họ đều rơi trong tình thế bị động và gần như tê liệt. Thậm chí, mỗi nước đều vấp phải những công trình khai thác tắc trách ngay trên lãnh thổ mình với tai hại mà lý ra có thể tiên liệu và tránh được.

Quá trình phát triển lầm lỗi khắp lưu vực

Những thông tin khoa học về kinh nghiệm của Trung Quốc trên thượng nguồn Vân Nam rất hiếm hoi và khó kiểm chứng, nhất là những kinh nghiệm bài học quá khứ là những bí mật không được phổ biến ra ngoài. Tại Côn Minh, thủ phủ của Vân Nam, hồ Điền Trì (Dianchi), hồ này lớn hàng thứ sáu của Trung Quốc, đã bị ô nhiễm nặng nề vì nước thải từ các nhà máy luyện kim, nông nghiệp và sinh hoạt dân cư. Theo tường trình tháng 4, 2000 của Sứ Quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh: Trung Quốc đã tốn trên US$2 tỉ để làm sạch môi sinh nhưng theo Word Bank ô nhiễm vẫn không thuyên giảm vì vẫn không kiểm soát hết được các nguồn chảy. Tại Dali cũng thế, Nhĩ Hải (Erhai) -hồ lớn thứ bảy của Trung Quốc - với dung tích 3 tỉ mét khối do 120 con sông ô nhiễm đổ vào. Hồ này không bị tù hãm như hồ Điền Trì nhờ chảy ra sông Xier. Xier lại chảy vào sông Mekong và đổ xuống hạ nguồn [Hình 3]. Nhĩ Hải tự hào là nơi khởi thủy của truyền thống dùng chim cormorant bắt cá thay lưới, thể hiện mục đích bắt cá để ăn không phải kỹ nghệ thương mại [2]. Ngày nay, chim cormorant không còn vất vả như xưa nữa mà vẫn giúp ngư phủ săn mồi bằng cách đứng chơi cho du khách chụp hình.

Trong chuyến quan sát tại Lào năm 1999, Aviva Imhof thuộc tổ chức International Rivers Network (IRN) đã phân tích các tác động sinh thái và xã hội của các đập thủy điện Lào xây trên các phụ lưu sông Mekong. Báo cáo “Power Struggle” của Imhof đã kết luận rằng những công trình khai thác Nam Ngum 1, Nam Ngum 2 và Nam Ngum 3, Nam Luek, Xe Kaman, Nam Theun-Hibon và Houay Ho là những dự án đã dựa vào căn bản kinh tế không vững chắc [economically shaky ground]. Có dự án đã thâm thủng ngân khoản đến 50% trước khi khởi sự. Imhof còn tố giác những cố vấn ngoại quốc đã cho chính phủ Lào, vốn là một nước nghèo, khuyến cáo sai lầm (poor advice to a poor country), nhất là lại về các dự án đầu tư to lớn ngang hàng với tổng sản lượng quốc gia của họ. Báo cáo này cho thấy thêm quân đội Lào đã lợi dụng việc khai quang làm hồ chứa, họ đã ngang nhiên phá rừng lấy gỗ trên khu diện tích rộng gấp 6 lần cần thiết và còn phá đi trước khi các dự án ấy được chấp thuận và có khi bị hủy bỏ. Aviva Imhof kết luận giới tư bản biến Lào thành thiên đường kinh tài cho họ (private investor paradise). Imhof không quá đáng trong nhận định này vì ngay như World Bank (WB) cũng đã xung phong đứng ra bảo kê các rủi ro chính trị cho các nhóm tư bản đứng sau dự án Nam Theun 2. WB đã dùng uy tín quốc tế buộc chính phủ Lào đứng ra ký nhận việc hoàn trả lại cho WB các phí tổn bảo kê ấy nếu phải xảy ra. Cuối cùng, tất cả hệ lụy từ kế sinh nhai bị thiệt hại, cưỡng bách phải di tản đã đành mà cả đến thất bại của đầu tư ngoại quốc cũng sẽ đổ hết lên đầu dân chúng [3].

Thái Lan sau khi cho xây đập Pak Mun [1994] đã thâm lạm đến 70% ngân quỹ dự trù mà vẫn không còn tiền đền bù thiệt hại cho dân cư. Cố vấn Pak Mun cho xây thang cá (fish ladder) để cá lội ngược dòng trở về thượng nguồn sinh sản nhưng đã thất bại, vì cá Mekong không chịu hợp tác lội ngược thang như cá salmon. Hậu quả, là việc giảm sút ngư sản đã xảy ra trực tiếp tác động trên sự sống còn của 20,000 ngư dân Thái sống ở thượng nguồn. Chính phủ Thái đã phải nhượng bộ mở khóa cho đập Pak Mun và Rasi Salai chảy tự nhiên trở lại, nhờ đó tình trạng ngư nghiệp thượng nguồn đang hồi phục [4].

Views: 18240

fb tw in fb