NỬA THẾ KỶ 1957 - 2007 TỪ ỦY BAN TỚI ỦY HỘI SÔNG MEKONG

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

LTS_ Năm 2007, kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Ủy Ban Sông Mekong của Liên Hiệp Quốc. Cũng là thời điểm đánh dấu con sông Mekong trước dồn dập những nguy cơ. World Wide Fund for Nature, đã ghi nhận: Mực nước con sông Mekong tụt thấp xuống tới mức báo động kể từ 2004 và trở thành những hàng tin trang nhất trên báo chí. "Trung Quốc làm kiệt mạch sống sông Mekong_ New Scientist"; "Sông Mekong cạn dòng vì các con đập Trung Quốc_ Reuters AlertNet"; "Xây đập và con sông chết dần_ The Guardian"; "Sông cạn do các con đập Trung Quốc_ Bangkok Post". Hầu hết đều mạnh mẽ quy trách cho việc xây các con đập thủy điện của Trung Quốc trên khúc thượng nguồn sông Mekong. Và cũng chính WWF đặt câu hỏi: Thế nhưng bức tranh toàn cảnh thì sao? Thế Kỷ 21 gửi tới bạn đọc bài viết dưới đây của nhà văn Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn sách mới xuất bản: Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch_ như một cái nhìn tổng quan về diễn tiến 50 năm khai thác và cả hủy hoại hệ sinh thái của con sông Mekong mà cho đến nay Việt Nam là quốc gia cuối nguồn, nhưng lại tỏ ra rất thụ động với thái độ "chờ xem".

TỪ ỦY BAN SÔNG MEKONG 1957-1976

Năm 1957, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là Mỹ, một Ủy Ban Sông Mekong (MRC/ Mekong River Committee) được thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Nam Việt Nam và một văn phòng thường trực đặt tại Bangkok; với kế hoạch phát triển toàn diện vùng Hạ Lưu sông Mekong (Lower Mekong Basin) nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực. Trong những bước ban đầu, Ủy Ban Sông Mekong đã được sự hướng dẫn và hỗ trợ của Ủy Hội Kinh Tế Á châu và Viễn Đông [ECAFE / Economic Commission for Asia and the Far East] và Cơ Quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc [UNDP].

Cho dù có một nửa chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó còn là một quốc gia toàn trị và khép kín nên ít được nhắc tới.

VỚI NHỮNG KẾ HOẠCH VĨ MÔ

Ủy Ban Sông Mekong đã có "viễn kiến" đánh giá được tiềm năng thủy điện vô cùng phong phú của con sông Mekong - trước Trung Quốc tới 2 thập niên, nên đã phác thảo kế hoạch xây các đập thủy điện lớn trên dòng chính sông Mekong nơi vùng Hạ Lưu. Thử điểm qua mấy dự án được coi là ưu tiên trong "giấc mộng lớn" ban đầu ấy:

- Dự án Pa Mong: cách thủ đô Vạn tượng 15 dặm trên dòng chính sông Mekong như ranh giới thiên nhiên giữa Thái và Lào. Pa Mong là đập chứa nước chính, sẽ kiểm soát lưu lượng toàn con sông Mekong ra tới Biển Đông và dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng tới những kế hoạch phát triển vùng hạ lưu. Nó có khả năng tiêu tưới 2 triệu rưỡi mẫu Anh cho vùng đông bắc Thái, cung cấp nguồn điện khoảng 2,000 MW [lớn hơn con đập Mạn Loan 1,500 MW]. Hồ nước với chiều dài khoảng 210 dặm sẽ dìm sâu trong đáy nước một vùng rộng lớn đất đai và nhà cửa của khoảng 60 ngàn dân cư nhưng sẽ cải thiện thủy lộ lưu thông trên sông, nâng cao mức sống và phát triển của toàn miền đông bắc Thái Lan.

- Dự án Sambor: cách thủ đô Nam Vang 140 dặm về hướng bắc trong lãnh thổ Cam Bốt. Công trình sẽ khiến mức nước dâng cao, làm ngập suốt 50 dặm ghềnh thác và cải thiện thủy lộ trên thượng nguồn, mở ra triển vọng giao thông giữa hai nước Lào và Cam Bốt. Lượng điện cung cấp sẽ lên tới 1000 MW, đủ cung cấp cho nhu cầu kỹ nghệ và dân dụng, đồng thời dùng cho việc bơm tưới các vùng đất đai thuộc Cam Bốt và Nam Việt Nam.

- Dự án Tonle Sap: là một đập chắn giữa Nam Vang và Biển Hồ. Biển Hồ là một hồ chứa thiên nhiên của con sông Mekong, bởi vì sông Tonle Sap suốt 5 tháng mùa lũ chảy ngược về Biển Hồ. Như vậy cửa đập sẽ mở trong mùa lũ để nước chảy ngược vào Biển Hồ tới mức dự trữ cao nhất và như vậy sẽ giảm thiểu nạn lụt. Đến mùa nước thấp, cửa đập sẽ được mở ra từng phần, duy trì mức sông sâu cho tàu biển vẫn có thể ra vào sông Mekong và đồng thời giảm thiểu lượng nước mặn xâm nhập vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL], từ đó có thể gia tăng thêm 2 triệu rưỡi mẫu Anh đất bỏ hoang vì muối phèn, vì hạn hán hay lũ lụt. Theo dự tính mực nước hồ sẽ luôn luôn được giữ cao hơn mức thấp khoảng một mét, có hiệu quả làm gia tăng lượng tôm cá trong Biển Hồ đang có nguy cơ bị sa sút và đây cũng là nguồn chất đạm chính cho người dân Cam Bốt. Sau cùng, do nguồn sản xuất điện từ Tonle Sap sẽ theo mùa, nên nguồn thủy điện từ đập Sambor sẽ là phần hỗ trợ cho dự án Tonle Sap.

Ngoài ra còn một số địa điểm khác trên dòng chính sông Mekong cũng được nghiên cứu cho những con đập khác như: đập Pak Beng, đập Pak Lay và đập Luang Prabang cũng nhằm sản xuất điện, mở thêm thủy lộ giao thông...

VÀ CẢNH ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG

Khi mà trong mỗi kế hoạch đã ẩn chứa những mâu thuẫn sâu xa về quyền lợi giữa các nước thành viên nếu chỉ đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp của riêng mình. Không dễ gì vượt qua trở ngại này nếu không có được một không khí cởi mở đối thoại dẫn tới sự tin cậy cùng với những tính toán thận trọng.

Một ví dụ liên quan tới dự án Pa Mong rất được Thái Lan nhiệt tình cổ võ không phải chỉ do tiềm năng thủy điện lớn lao cung cấp cho kỹ nghệ và dân dụng mà còn do kế hoạch dẫn thủy bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái Lan rộng lớn khô cằn. Nhưng còn hậu quả môi sinh của Pa Mong đối với hai nước hạ nguồn Cam Bốt và Việt Nam sẽ ra sao? Như làm trầm trọng thêm nạn nhiễm mặn từ biển vào sâu trong vùng ĐBSCL. Nếu đây là mối e ngại của Việt Nam thì đó thực sự không phải là mối quan tâm của Thái Lan !

Một ví dụ thứ hai, trong khi kế hoạch Tonle Sap và Sambor rất được Việt Nam tha thiết quan tâm, do hai hồ chứa này (một thiên nhiên và một nhân tạo) ngoài mục đích sản xuất điện, còn có khả năng điều hòa mực nước theo hai mùa lũ lụt và khô hạn đồng thời ngăn chặn được nạn nhiễm mặn lấn sâu vào vùng ĐBSCL; nhưng dự án ấy đã bị Cam Bốt nhìn với con mắt nghi kỵ do bắt nguồn từ ám ảnh lịch sử vốn thiếu thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch giữa hai nước. Cam Bốt đã không coi vấn đề tăng lượng hải sản trong Biển Hồ Tonle Sap và việc ngăn lũ là quan trọng nên đã từng tỏ ý không hợp tác và cũng đã nhiều lần dọa rút ra khỏi Ủy Ban Nghiên Cứu Dự án.

Nhưng rồi, sau đó cuộc chiến tranh Việt Nam kinh hoàng đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương qua hơn ba thập niên, [Thái Lan tuy không trực tiếp tham chiến nhưng cũng đã là một hậu cần của Mỹ trong suốt cuộc chiến], nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mekong vùng Hạ Lưu hoàn toàn bị gián đoạn, khiến cho con sông Mekong còn giữ được vẻ hoang dã và cả sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.

Và để rồi sau đó, những kế hoạch khai thác vĩ mô nguồn thủy điện phong phú của sông Mekong được chuyển lên phương bắc với dự án một chuỗi 14 con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc.

RỒI ỦY BAN MEKONG LÂM THỜI 1978 - 1992

Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nhưng vẫn còn một cuộc chiến tranh diệt chủng diễn ra trên Xứ Chùa Tháp. Không có Cam Bốt, một Ủy Ban Mekong Lâm Thời (IMC/ Interim Mekong Committee) được thành lập năm 1978 với hoạt động hạn chế.

Cũng trong thời gian này, Thái Lan bắt đầu có kế hoạch chuyển dòng sông Mekong nhằm đưa một lượng nước lớn bơm tưới cho cao nguyên Isan, là cả một vùng đông bắc Thái luôn luôn bị khô hạn. Đó là một dự án của riêng Thái Lan, không có trong kế hoạch ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong. Khi gặp sự chống đối của Việt Nam, Thái Lan đi tới phủ nhận tính cách pháp lý của Ủy Ban Sông Mekong, viện lý do là tổ chức này đã không còn phù hợp với những thay đổi về chánh trị, kinh tế và xã hội trong vùng. Trong điều kiện phân hóa như vậy, Ủy Ban Mekong Lâm Thời hầu như bị tê liệt.

TỚI ỦY HỘI SÔNG MEKONG 1995 NHƯ MỘT XUỐNG CẤP

Bước vào thời bình với nhu cầu phát triển, con sông Mekong đã trở thành mục tiêu khai thác của cả 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong hay còn được gọi là Tiểu Vùng Mekong Mở Rộng (GMS/ Greater Mekong Subregion).

Cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi mâu thuẫn. Do đó, phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự như Ủy Ban Sông Mekong trước đây là cần thiết.

Ngày 05 tháng 04 năm 1995, 4 nước hội viên gốc của Ủy Ban Sông Mekong �đã họp tại Chiang Rai, bắc Thái Lan cùng ký kết một "Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong" và nay đổi sang một tên mới là Ủy Hội Sông Mekong (MRC/ Mekong River Commission), không còn lệ thuộc vào ECAFE và UNDP nữa mà thuộc trách nhiệm của một Hội Đồng Bộ Trưởng [Council of Ministers] các quốc gia thành viên và quan trọng hơn hết là đã có một thay đổi cơ bản trong Hiệp Ước mới này thay vì như trước đây theo điều lệ của Ủy Ban Sông Mekong, mỗi hội viên có quyền phủ quyết (veto power) bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong thì nay, theo nội quy mới không một thành viên nào có quyền phủ quyết như vậy và trong ngôn từ để chuẩn y các dự án cũng rất là mơ hồ như chỉ qua thông báo và tham khảo. Đại diện cho Việt Nam là Ngoại Trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đặt bút ký cho Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển - có thể nói là "Không Bền Vững" này, với những di lụy không ít cho tương lai vì Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn.

Có thể nói Ủy Hội Sông Mekong là "biến thể và xuống cấp" của Ủy Ban Sông Mekong trước kia; và nay có văn phòng đặt tại Vạn Tượng.

Và mỗi quốc gia thành viên đều có một Ủy Ban Mekong Quốc Gia (NMC/ National Mekong Committee), và riêng Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam với một địa chỉ khá nghịch lý: 23 phố Hàng Tre, Hà Nội - nơi châu thổ sông Hồng cách xa ĐBSCL với Đại Học Cần Thơ, Đại Học An Giang hơn 1,600 Km.

Khác với tham vọng chiến lược ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong nhằm khai thác tiềm năng sông Mekong - như một con sông quốc tế, cho sự thịnh vượng chung của toàn lưu vực, thì nay mục tiêu của Ủy Hội Sông Mekong có phần khiêm tốn và thu hẹp hơn bao gồm: 3 Chương Trình Nòng Cốt [Chương Trình Sử Dụng Nước, Chương Trình Phát Triển Lưu Vực; Chương Trình Môi Trường]; 5 Chương Trình Khu Vực [Canh Nông, Thủy Lâm, Ngư nghiệp, Giao Thông, Du lịch]; và 1 Chương Trình Yểm Trợ. (3)

Ủy Hội Sông Mekong được bảo trợ bởi các tổ chức quốc tế, các tổ chức quốc gia, các viện nghiên cứu, và cả hội tư nhân. Ủy Hội đã trải qua những bước khởi đầu chậm chạp do sự yếu kém trong quản trị, các cơ quan bảo trợ tỏ ra thiếu tin tưởng vào Ủy Hội, sự thờ ơ của các nước thành viên. Nhưng rồi từng bước, Văn Phòng Thường Trực của Ủy Hội Sông Mekong đã được cải thiện, tạo dựng được một hình ảnh mới tích cực hơn, đón nhận được sự tài trợ cũng lớn hơn, lên tới 28 triệu Mỹ kim năm 2000.

Ủy Hội Sông Mekong đã hoàn tất được vài thành quả ban đầu như : đạt được thỏa thuận chia xẻ thông tin giữa 4 nước thành viên, thiết lập đưa vào sử dụng mạng lưới internet tiên đoán lũ lụt và theo dõi dòng chảy mùa khô; và nhất là đạt được thỏa ước [ký kết tháng 4, 2002] có thể gọi là lịch sử về trao đổi dữ kiện thủy văn [hydrological data exchange agreement] giữa Trung Quốc và Ủy Hội Sông Mekong. (7)

YẾU TỐ TRUNG QUỐC NHƯ MỘT NHÂN TAI

Qua thời kỳ chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã thực sự mở cửa ra với thế giới bên ngoài và vươn lên như một siêu cường. Không còn ảnh hưởng thống trị của Mỹ ở Đông Nam Á, Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành yếu tố mới năng động với ảnh hưởng bao trùm trên toàn Lưu Vực Lớn Sông Mekong.

Sự thịnh vượng cho Lưu Vực là điều hứa hẹn nhưng chưa tới, và đã tới những hậu quả nhãn tiền của các bước khai thác tự hủy nguồn tài nguyên sông Mekong, ảnh hưởng trực tiếp tới 60 triệu dân cư sống trong lưu vực.

Năm 1986, Trung Quốc bắt đầu xây con đập thủy điện lớn đầu tiên trong dự án 14 con đập bậc thềm Vân Nam, chắn ngang dòng chính sông Lan Thương tên Trung Quốc của con sông Mekong: [1] Đập Mạn Loan / Manwan cao 126 m, công suất 1,500 MW hoàn tất 1993; tiếp theo là [2] Đập Đại Chiếu Sơn / Daichaosan cao 118 m, công suất 1,350 MW hoàn tất 2003. Thêm hai con đập khác cũng đang được xây cất [3] Đập Tiểu Loan / Xiaowan cao như tháp Eiffel 292 m, công suất 4,200 MW, [chỉ sau con đập Tam Hiệp / Three Gorges Dam trên sông Dương Tử ], dự trù hoàn tất năm 2010; thêm con đập thứ tư [4] Đập Cảnh Hồng / Jinghong cao 107 m 1,500 MW tương đương công suất với con đập Mạn Loan, cũng đang được thi công.

Và thêm 4 dự án đập lớn Vân Nam khác cũng đang được triển khai: trong đó phải kể tới con đập khủng long Nọa Trác Độ / Nuozhadu công suất 5,500 MW [lớn hơn gấp 3 lần công suất đập Mạn Loan] với dung lượng hồ chứa còn lớn hơn nữa: 22,740 MCM.

Cũng vẫn theo Fred Pearce, thì vào đầu thập niên tới, chuỗi đập bậc thềm Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong trước khi ra khỏi Vân Nam. (4)

[Để độc giả có ý niệm về tầm vóc của chuỗi đập Vân Nam, ta hãy so sánh với một công trình khác được coi là �rất vĩ đại� của Mỹ: TVA / Tennessee Valley Authority với hệ thống các đập thủy điện trên sông Tennessee và phụ lưu. Số đập Vân Nam là 14, trong khi TVA chỉ có 9. Độ dốc của chuỗi đập Vân Nam là 1,500m 12 lần cao hơn TVA; tổng công suất chuỗi đập Vân Nam gấp 13 lần tổng công suất TVA. Như vậy đối chiếu với chuỗi đập Vân Nam thì đại công trình TVA nổi tiếng bấy lâu của Mỹ nay đã trở thành một bóng mờ. (5)

Cụ thể hơn, khi Bạn đi Las Vegas, có dịp đến thăm con đập thủy điện khổng lồ Hoover của Mỹ cao 221 m với công suất 2,080 MW trên sông Colorado, nhưng chỉ lớn hơn con đập Mạn Loan và chưa bằng nửa công suất của riêng con đập Tiểu Loan/ Xiaowan 4,200 MW. Tưởng cũng nên ghi lại đây là do người Mỹ đã tận dụng nguồn nước khúc sông thượng nguồn nên đã khiến con sông Colorado khô cạn không còn nước để ra tới biển gây thảm cảnh cho bao nhiêu triệu cư dân Mễ sống nơi cuối nguồn].

Rõ ràng trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc đã ào ạt khai thác con sông Mekong, không ngừng (I) xây thêm những con đập thủy điện khổng lồ ngang dòng chính (II) phá đá và khai thông các khúc sông ghềnh thác để mở thủy lộ cho các con tàu 700 tấn đi về phương Nam và (III) mới đây dùng sông Mekong làm con đường vận chuyển dầu khí từ Chiang Rai bắc Thái lên Vân Nam (2). Tất cả đã và đang làm ảnh hưởng tới nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa và cả gây ô nhiễm cho hạ nguồn.

[ Trước đó, vào tháng 4 / 2006, Bắc Kinh cũng đã âm thầm ký kết với chánh quyền quân phiệt Miến Điện một thỏa ước xây dựng ống dẫn dầu từ cảng Sittwee vịnh Bengal vượt đồi núi băng qua các vùng sắc tộc đông dân cư để lên thẳng tới thủ phủ Côn Minh thay vì phải diệu vợi đi qua eo biển Malacca. Ảnh hưởng phá hủy môi sinh và cư dân phải di dời ra sao là điều chưa được xét tới ].

Views: 5339

fb tw in fb