HỘT LÚA LONG ĐONG

Năm 1972, trong một buổi đi điền dã ở xã Thới Thạnh, quân Phong Phú, tỉnh Phong Dinh, đến nhà một bác nông dân, tôi thắc mắc khi thấy bên hông bàn thờ tổ tiên đặt giữa nhà có treo câu “Thần nông chi bảo”. Tôi hỏi thưa Bác, câu đó nghĩa là sao? Bác chủ nhà cười nói: “Bác là nông dân thì thờ ông Thần Nông, Thần bảo sao thì mình theo vậy mà sống”. Ba tôi lúc đó mới giải thích thêm, là nhà Bác này làm ruộng khấm khá lên là nhờ giống lúa cải tiến IR8 (Improvement Rice - IR), mà dân mình gọi là giống lúa Thần Nông, xem như đấy là giống lúa quý, ngắn ngày, dễ trồng, cứng cây, cho năng suất cao.  Từ hình ảnh và câu chuyện đầy ấn tượng đó, tôi hay suy nghĩ về sự gắn chặt giữa cây lúa và người nông dân như một số phận. Nó đã đi theo một phần cuộc đời nghiên cứu của tôi nhiều năm sau này, trong các mối quan hệ giữa đất – nước và cây trồng ở vùng châu thổ ngập lụt Cửu Long và cả vùng đồng bằng bán sơn địa ở Nam Lào, khi ấy tôi sang đó làm chuyên gia về phát triển nông thôn cho một dự án kéo dài hơn 5 năm với mục tiêu đầy tham vọng là giúp cho dân Lào có thể tự túc lúa gạo.

Khi những người lưu dân Việt Nam đầu tiên đến vùng châu thổ Cửu Long, trong khung cảnh hoang vu nê địa, công việc quan trọng trước hết, là ông bà ta tìm đến nơi nào có cây lúa mọc được để dựng làng sinh sống. Trước mặt là sông, giữa là nhà, sau lưng là ruộng.

Các vùng “lúa ma” là nơi cung cấp hột lúa có thể ăn được dù phải chỉ có thể thu hoạch vào cuối năm, khoảng thời gian nửa đêm rạng sáng, loại lúa này tự sinh, tự lớn, tự gieo hạt, hột lúa nhỏ, nấu cơm cứng hạt,  râu lúa dài gấp nhiều lần chiều dài hột lúa. Ruộng lúa lúc đầu chỉ là những thảo điền (ruộng đầy cỏ), sau dần dần được khai phá, chỉnh trang thành đất chuyên trồng lúa, dù nông dân bàn đầu vẫn sống trong cảnh “nửa năm đi trên mặt nước, sáu tháng đạp trên đất đồng khô”.

Chẳng biết chính xác tự lúa nào, cây lúa đã gắn với người dân nông thôn vùng châu thổ như một số phận kéo dài nhiều thế hệ, người thành thị vẫn gọi nông dân đồng bằng bằng cái tên dễ phân biệt “Hai Lúa”. Suốt mấy ngàn năm lịch sử đầy biến động của Việt Nam, chén cơm ăn hằng ngày vẫn là một ám ảnh. Trong đầu thế kỷ trước, có lần nhà văn Vũ Trọng Phụng phải thốt lên: “Ôi, làm người mà được ăn cơm thì sướng quá!”. Vậy mà, một thế kỷ sau, câu hỏi thăm của người dân Việt Nam khi gặp nhau “ăn cơm chưa?” trước kia, như một thói quen, vẫn còn tồn tại đến bây giờ, kể cả người Việt đã ra định cư ở nước ngoài.

Năm Ất Dậu 1945, khi phát xít Nhật chiếm đóng Việt Nam, chủ trương phá lúa trồng đay, chặn đường tiếp gạo ra miền Bắc, hậu quả hai triệu đồng bào miền ngoài chết đói như một thảm hoạ nhân đạo, trong khi miền Nam không có than đá, xe lửa từ Mỹ Tho đi Saigon phải đốt bằng lúa để chạy. Ở đất Saigon trước 1975 vào thời điểm gay go của chiến sự, từng có sự kiện hy hữu là đã thực hiện tử hình công khai giữa đường phố một doanh nhân gốc Hoa vì tội đầu cơ tích trữ gạo. Có lẽ đây là vụ án tử duy nhất trên thế giới liên quan đến lúa gạo.

Người Việt xưa, khi còn nhỏ bé, ngoài sữa mẹ, còn có chén nước cơm pha thêm tí đường, và lúc nhắm mắt lìa đời, trên bàn thờ vẫn là chén cơm cúng. Khi vua Gia Long lên ngôi từ nửa đầu thế kỷ thứ 19, nước Việt Nam ta bắt đầu có những quy định pháp lý về đo lường gạo, tiếp đến vua Minh Mạng đã bắt buộc các quan lại phải báo cáo định kỳ lên triều đình về sản lượng gạo và giá gạo ở địa phương. Nhắc lại chuyện lịch sử để hiểu rằng, chính tư duy về tầm quan trọng của lúa gạo từ xưa như vậy nên ngày nay, nhiều chính sách vẫn đeo bám cây lúa và các loại lượng thực khác như một chiến lược quan trọng trong an ninh quốc gia.

Từ năm 1875, vùng châu thổ Cửu Long đã là nơi xuất cảng gạo ra thế giới, ban đầu chỉ non nửa tấn (niên vụ 1875-1876) và tăng dần đều đến 1,5 triệu tấn gạo vào cuối năm 1930. Tuy nhiên, chiến tranh kéo dài đã làm giảm đi sản xuất lúa và mất luôn năng lực xuất cảng lúa, hậu quả tệ hại là đã nhiều năm Việt Nam thành một nước phải nhập cảng gạo và lương thực khác, đặc biệt là những năm “ngăn sông, cấm chợ” trong giai đoạn 1975 – 1986. Tuy nhiên, từ khi có chủ trương xoá bỏ các hình thức sai lầm như lập các tập đoàn sản xuất, hợp tác xã, kiểm soát lương thực duy ý chí và thiếu hiệu quả, sản xuất lúa gạo lập tức được giải thoát, Việt Nam mất đi cảnh ăn độn vì thiếu gạo. Từ 1980 – 2010, nhiều chỉ đạo chính sách, ngân sác và công trình khai thác tài nguyên đất và nước, kể cả tài nguyên trí tuệ, được ưu tiên tập trung chính cho việc sản xuất lúa. Năm 1989, Việt Nam được đánh dấu trên bản đồ xuất cảng gạo của thế giới. Cao điểm năm 2012, Việt Nam vươn lên là nước đứng đầu thế giới về xuất cảng gạo với sản lượng xuất đạt đến 7,72 triệu tấn gạo. Hạt gạo Việt Nam đã có mặt trên 130 nước. Hai thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất là Trung Quốc và Philippines.

Song, hào quang và tự hào này dần bớt sáng do nhiều lý do. Sau 2012, sản lượng gạo xuất Việt Nam có xu thế giảm và kim ngạch bán gạo ra thế giới cũng giảm theo. Năm 2016, gạo xuất cảng của Việt Nam chỉ còn 4,89 tấn bởi nhiều vùng bị mất mùa do khô hạn, nhiễm mặn. Năm 2019, Việt Nam bán được 6,37 triệu tấn gạo ra nước ngoài, so với năm 2018 có tăng 4,1% về lượng nhưng giảm 8,4% về kim ngạch, giá bán gạo trung bình năm 2019 là 440,7 USD/tấn, giảm 12,1% so với năm trước.

Niên vụ 2020, Việt Nam đứng trước một thử thách đôi lớn ảnh hưởng đến các quyết sách lương thực: đại dịch toàn cầu COVID-19 đang hoàng hành nghiêm trọng khó đoán chừng nào chấm dứt và thiên tai hạn hán cùng tình trạng nước mặn xâm nhập lịch sử.  Nhiều quốc gia buộc phải đóng cửa biên giới để kiểm soát bệnh dịch và như một hệ quả tất yếu, thị trường, cung ứng về lương thực và thực phẩm bị hạn chế do nhiều bất an. Nhiều nước tìm cách gia tăng mua lương thực dự trữ khiến giá gạo nhích dần lên, cả phân khúc loại gạo cao cấp ngon, thơm, dẻo và cả nhóm gạo phẩm chất thấp hơn.  Giá gạo xuất cảng cao hơn là một tín hiệu tốt cho nông dân có thể có nguồn thu nhập cao hơn vì thương nhân cũng phải tăng cường thu mua gạo trong dân.

Tuy nhiên, các số liệu để đánh giá khả năng dự trữ lương thực quốc gia thiếu và chưa đồng nhất khiến Thủ tướng Chính phủ phải tạm dừng xuất để kiểm kê và phân tích. Sự thận trọng này là cần thiết và không cần phải vội vàng do trong giai đoạn ngắn hiện nay, giá gạo thế giới vẫn tiếp tục gia tăng. Nếu quyết bán gạo vào thời điểm này, chắc chắn tiền bán gạo thu được sẽ cao hơn giá trị gạo cách đây 1 tháng. Vấn đề là Chính phủ cần phải chỉ đạo tăng giá mua gạo trong nông dân cao hơn để nông dân được lợi nhuận tốt hơn và Nhà nước có thêm nhiều nguồn dự trữ trong kho và xuất cảng trong thời gian tới. Sau hơn 2 tuần rà soát, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép xuất 400.000 tấn ngày trong tháng 4/2020. Tuỳ tính thế trong thời gian tới, lượng gạo cho phép xuất có thể sẽ tăng lên.

Chẳng biết từ bao giờ, vùng châu thổ Cửu Long được mệnh danh là “vựa lúa” của cả nước. Chữ “vựa” là một phương ngữ duy nhất chỉ có miền Nam, miền Bắc lâu nay không có. “Vựa” được hiểu là nơi kho thu mua, kho tập trung, kho chứa, kho trung chuyển, đôi khi là nơi  chế biến và cả là nơi bán sỉ cùng như bán lẻ. Nhiều “chủ vựa” hiện nay nhận luôn khâu logistic gồm cả các dịch vụ đóng gói, bao bì, bốc xếp, vận chuyển, làm thủ tục kiểm tra chất lượng, mở vận đơn xuất nhập khẩu, thanh toán, chuyển khoản,… Nhiều năm nay, nông dân là người làm ra hột lúa và hạt gạo, họ chịu nhiều hy sinh vất vả, chịu sự ô nhiễm môi trường đất, nước và cả không khí, mất mát do sự biến dạng văn hoá nhưng thu nhập chính của người nông dân vẫn bấp bênh theo các chủ trương bên trên và các công ty kinh doanh lương thực.

Dù Hội Nông dân Việt Nam có mặt đến từng xã, từng huyện nhưng thực tế, nông dân chưa có ý kiến tham gia vào các quyết sách liên quan đến nông sản của họ. Nông dân vùng châu thổ vẫn phải trong vòng nghèo khổ, dù họ không đói, thu nhập từ lúa gạo của họ bị trừ đi tiền lãi vay ngân hàng, tiều mua thiếu vật tư – dịch vụ nông nghiệp, việc mong muốn tiền lời 30% từ trồng lúa vẫn còn là những gì khó khăn trong khi gánh nặng miếng ăn hằng ngày, tiền học hành con cái, chi tiêu gia đình mỗi năm một lớn. Gần như người nông dân không được gì ngoài một vòng nguyệt quế ảo về trọng trách bảo đảm an ninh lương thực mà một số cán bộ tuyên truyền khoát cho họ.

Có lẽ cần phải có những sự thay đổi cách nhìn nhận và quyết sách lương thực phải có tiếng nói của nông dân như một bên liên quan. Cần thiết phải có một nhóm cố vấn về chính sách lương thực quốc gia, có thành phần là những đại diện nông dân trực tiếp sản xuât và có hiểu biết. Nhóm cố vấn cho Chính phủ này sẽ xem xét các quyền lợi chính đáng của nông dân Việt Nam trong các chủ trương đầu tư cho nông nghiệp và xuất cảng nông sản. Song song đó, cần mở rộng các kênh truyền thông để ghi nhận các ý kiến rộng rãi các chuyên gia kinh tế nông nghiệp và người dân, giúp cho Chính phủ kịp thời điều chỉnh trong các quyết sách.

Việt Nam hoàn toàn không lo thiếu ăn trong điều kiện hiện nay. Không có vùng đồng bằng nào trên thế giới có khả năng chỉ trong vòng 100 ngày có thể tạo ra xấp xỉ 7 triệu tấn lúa như vùng châu thổ sông Cửu Long. Ngoài cụm từ “an ninh lương thực”, chúng ta cần chú ý hơn thêm vấn đề “an toàn lương thực”. Quan trọng nhất là làm sao giữ được sự phát triển bền vững không chỉ riêng cho vùng sản xuất lương thực lớn nhất Việt Nam mà cần cho toàn cõi Việt Nam, cả về tự nhiên và con người.

Lê Anh Tuấn
------------------------------------------
(*): Ghi chú: Trong bài này tác giả cố tình dùng chữ HỘT LÚA và HẠT GẠO. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, vị Viện trưởng đầu tiên Viện Đại học Cần Thơ, tác giả của nhiều quyển sách về thực vật học, như của bộ sách Cây cỏ Việt Nam. GS. Phạm Hoàng Hộ đã đề nghị sinh viên ngành thực vật học và nông nghiệp nên phân biệt dùng từ "Hột" và "Hạt".  Hột là một sản phẩm của thực vật, CÓ THỂ NẢY MẦM thành một cây mới, nên gọi hột lúa, hột đậu, hột bắp, ... Hạt là hột được bóc tách vỏ hoặc một phần phôi, thì KHÔNG THỂ NẢY MẦM, ví dụ hạt gạo không thể nảy mầm,...

Views: 170

fb tw in fb